Đọc sách là thú vui

Ngày tạo: 2026-01-22 217

Nếu trong năm 2025 bạn đọc được một cuốn sách, chỉ một cuốn thôi, thì về cơ bản, bạn có thể được xếp vào nhóm có nguy cơ tuyệt chủng

Giống như ong mật hay sói đỏ, số lượng người Mỹ đọc sách đã suy giảm đáng kể trong suốt nhiều thập kỹ qua.

Khảo sát mới nhất của Survey of Public Participation in the Arts vào năm 2022 cho thấy: chưa tới một nửa người Mỹ đọc nổi một cuốn sách trong vòng một năm; chỉ 38% đọc tiểu thuyết hoặc truyện ngắn. Một nghiên cứu khác của Đại học Florida và University College London cho thấy, từ năm 2003 đến 2023, số người Mỹ đọc sách hằng ngày vì sở thích đã giảm trung bình khoảng 3% mỗi năm.

Và điều đáng nói là xu hướng ấy không hề chững lại. Nó đang tăng tốc. Trong khoảng mười năm trở lại đây, khả năng đọc của học sinh Mỹ lao dốc rõ rệt, kéo theo thói quen đọc cũng sa sút. Năm 2023, chỉ còn 14% trẻ 13 tuổi đọc sách gần như mỗi ngày vì sở thích, trong khi mười năm trước, con số này là 27%. Ngày càng nhiều học sinh trung học, thậm chí sinh viên đại học, gặp khó khăn khi phải đọc trọn vẹn một cuốn sách từ đầu đến cuối.

Giới giáo dục và các nhà hoạch định chính sách đã loay hoay với vấn đề này suốt nhiều thập kỷ, nhưng hầu như không tạo ra được sự thay đổi thực chất. Gần đây, một số người đang thử một cách tiếp cận mới: nếu người Mỹ không đọc vì yêu thích, thì hãy thuyết phục họ đọc để cứu lấy nền dân chủ.

Hiệp hội Xuất bản Quốc tế, đại diện cho các nhà xuất bản ở 84 quốc gia, đã dành cả năm qua để quảng bá khẩu hiệu “Dân chủ phụ thuộc vào việc đọc”. Họ cho rằng việc đọc sâu, đọc có phản tư là một trong số ít không gian còn sót lại nơi con người có thể tập làm quen với sự phức tạp, lấy lại khả năng tập trung và nuôi dưỡng tự do nội tâm – những điều được xem là nền móng cho tự do cộng đồng.

Nhưng lập luận kiểu này không phải là sai. Vấn đề là chúng không thuyết phục được ai đọc nhiều hơn, bởi chúng hiểu sai căn nguyên của việc đọc. Bảo một người hãy yêu văn chương vì đọc sách có ích cho xã hội cũng giống như bảo họ tin vào tôn giáo vì tôn giáo tốt cho xã hội. Đó là một lập luận mang tính công cụ, áp đặt lên một thứ vốn dĩ phải xuất phát từ đam mê cá nhân.

Sẽ hợp lý hơn nếu nói về việc đọc không như một nghĩa vụ đạo đức hay công dân, mà như một thú vui riêng tư, đôi khi thậm chí dù mang nghĩa tiêu cực một chút. Cách nhìn ấy không chỉ dễ chạm đến người trẻ hơn, mà còn gần với sự thật. Khi văn chương từng bị xem là nguy hiểm, lệch chuẩn, các nhà đạo đức học không sao ngăn được người ta tìm đọc những cuốn sách “độc hại” ấy. Còn ngày nay, khi sách được khoác lên mình vẻ đạo mạo, lành mạnh và đúng đắn, thì chính sự đúng đắn ấy lại khiến ít ai muốn chạm vào.

Một trong những ký ức đọc sách sớm và rõ nét nhất của tôi là hồi lớp năm, khi tôi mải mê đọc đến mức không hề nhận ra một bài kiểm tra chính tả đang diễn ra trước mắt. Tôi nhớ khoảnh khắc ấy một phần vì sợ sẽ bị phạt. Nhưng điều khiến ký ức đó ở lại suốt bốn mươi năm, không phải là nỗi sợ, mà là cảm giác rất lạ: thời gian vẫn trôi trong lớp học, nhưng dường như đã ngưng đọng với tôi. Theo một nghĩa rất thật, tôi đã ở một nơi khác, thế giới của cuốn sách.

Trở thành một người đọc là chấp nhận xây dựng một mối quan hệ với thế giới mà, xét theo nhiều tiêu chuẩn, có vẻ vô ích và phản tác dụng. Đọc sách không mang lại lợi nhuận, không dạy ta kỹ năng có thể quy đổi, cũng chẳng mở ra cơ hội kết nối nào. Ngược lại, đó là một hoạt động mang tính chống đối xã hội theo nghĩa rất cụ thể: để đọc, bạn phải ở một mình, hoặc giả vờ như vậy bằng cách tách mình khỏi mọi người xung quanh. Đọc sách dạy bạn quan tâm đến những gì diễn ra trong đầu mình nhiều hơn là những gì đang xảy ra ngoài kia.

Bất kỳ ai từng là một đứa trẻ mê sách đều có thể kể một câu chuyện tương tự như trải nghiệm của tôi. Marcel Proust đã kể câu chuyện ấy trong Swann’s Way, tập đầu của bộ In Search of Lost Time, khi ông viết về những buổi chiều hè đọc sách ở miền quê đến mức không nghe thấy tiếng chuông nhà thờ.

“Sometimes it would even happen that this precocious hour would sound two strokes more than the last; there must then have been an hour which I had not heard strike; something which had taken place had not taken place for me; the fascination of my book, a magic as potent as the deepest slumber, had stopped my enchanted ears and had obliterated the sound of that golden bell from the azure surface of the enveloping silence.”

" Có những lúc, tôi chợt nhận ra tiếng chuông vừa điểm nhiều hơn hai nhịp so với lần trước. Hẳn đã có một giờ trôi qua mà tôi không hề nghe thấy. Một điều gì đó đã xảy ra, nhưng lại không xảy ra với tôi. Sức mê hoặc của cuốn sách, thứ ma thuật sâu thẳm chẳng kém gì giấc ngủ say nhất, đã làm đôi tai tôi bị phù phép, xóa nhòa tiếng chuông vàng ấy khỏi bề mặt xanh biếc của sự tĩnh lặng đang bao bọc quanh mình."

Thoạt nhìn, khả năng chìm sâu như thế vào thế giới sách có vẻ như một ân huệ. Nhưng càng về sau, Proust cho thấy chính sự nhạy cảm ấy với sách, với âm nhạc, với nghệ thuật, cũng là thứ khiến nhân vật của ông trở nên lạc lõng trong đời sống và các mối quan hệ. Ông say mê vẻ đẹp của những cái tên, những địa danh đến mức khi chạm vào thực tế, ông luôn thất vọng. Sự ám ảnh với thế giới nội tâm khiến ông trở nên vị kỷ; người khác tồn tại trong đời ông chủ yếu như những nguồn cảm xúc, chứ không phải những con người độc lập với mong muốn và suy nghĩ riêng.

Nếu muốn tìm bằng chứng rằng việc đọc sách khiến con người trở thành công dân tốt hơn, thì nơi cuối cùng nên tìm đên hẳn là văn chương vĩ đại. Các nhà văn hiểu văn chương quá rõ để lý tưởng hóa nó như cách giới giáo dục thường làm. Trái lại, không ít tiểu thuyết lớn lại xoay quanh việc đọc sách đã làm hỏng đời người ra sao, bắt đầu từ Don Quixote. Nhân vật của Cervantes nghiện sách hiệp sĩ đến mức trí tưởng tượng bị lấp đầy bởi phép thuật, chiến trận, tình yêu và những điều không thể có, rồi tin rằng mình là nhân vật trong chính cuốn tiểu thuyết ấy, để rồi lao vào những cuộc phiêu lưu vừa buồn cười vừa thảm hại.

Nhiều thế kỷ sau, Emma Bovary của Flaubert lặp lại sai lầm đó với cái giá nặng nề hơn. Cô nghiện đọc sách từ khi còn trẻ, để rồi khi bước vào hôn nhân và nhận ra đời sống thực không giống những gì tiểu thuyết từng hứa hẹn, cô lựa chọn ngoại tình để truy tìm những khái niệm như hạnh phúc, đam mê, say mê, những thứ từng đẹp đẽ trong sách. Nhưng cái đẹp của văn chương, khi mang ra đời sống, lại trở nên tàn nhẫn, đẩy Emma đến suy sụp và cái chết.

Nếu thực sự muốn việc đọc không biến mất, thì có lẽ điều tốt nhất là nói thẳng với người trẻ một sự thật mà nhiều nhà văn lớn vẫn thừa nhận: văn chương không khiến bạn trở thành người tốt hơn hay thành công hơn. Đam mê đọc sách thậm chí có thể khiến cuộc sống khó khăn hơn. Và không ai nuôi dưỡng một đam mê chỉ vì dân chủ.

Người ta đọc vì khoái cảm rất riêng của việc lén thức khuya, trùm chăn đọc sách dưới ánh đèn pin, không thể dừng lại và vừa đọc vừa mong rằng sẽ không ai phát hiện ra.

Nguồn: Thebookland lược dịch từ The Atlantic

Tin tức liên quan

Xem tất cả

Đọc sách là thú vui

Trở thành một người đọc là chấp nhận xây dựng một mối quan hệ với thế giới mà, xét theo nhiều tiêu chuẩn, có vẻ vô ích và phản tác dụng.

Source Code - Bill Gates: lần theo “mã nguồn” của một thiên tài công nghệ

Thay vì kể về những thành tựu rực rỡ, tập hồi ký đầu tiên của vị tỷ phú công nghệ tập trung vào những câu chuyện tuổi thơ, những nỗ lực kiên nhẫn của cha mẹ và một cú sốc tinh thần đến quá sớm, nhưng định hình sâu sắc con người ông về sau.

5 bài học sống mạnh mẽ ẩn giấu trong “A Christmas Carol”

Ra mắt lần đầu tiên vào năm 1843, cho đến nay A Christmas Carol đã trở thành một phần không thể thiếu khi nhắc đến Giáng Sinh giống như các biểu tượng cây thông, tất, tầm gửi. Bởi Charles Dickens không chỉ viết một câu chuyện Giáng Sinh, ông viết một tấm gương cho xã hội.

Giáng sinh hoàn hảo trong nét vẽ của Shirley Hughes - ký ức dịu dàng từ con gái Clara Vulliamy.

Có lẽ chẳng có điều gì đẹp hơn một mùa Giáng Sinh mang dấu ấn Shirley Hughes.